các cấp độ đăng ký bảo hộ tên thương hiệu

Các cấp độ về bảo hộ tên thương hiệu & khả năng đăng ký

Học viện Plato | Kiến thức thương hiệu | Cập nhật: 16/06/2021

Xây dựng thương hiệu mà không bảo hộ tên thương hiệu hoặc các yếu tố nhận diện khác được ví như xây nhà trên đất không có sổ đỏ, có thể mất bất kỳ lúc nào.

Một cái tên đúng sẽ là tài sản thương hiệu vô cùng quý giá, giúp tạo dựng sự khác biệt và nhanh chóng khiến thương hiệu đó được chấp nhận trong tâm trí khách hàng.

Tên thương hiệu được ví như “tài sản” một phần cũng bởi vì để có được nó cần trải qua nhiều công đoạn “khó nhằn”. Làm sao để tạo ra được một cái tên tốt, gây ấn tượng đối với khách hàng mục tiêu, thể hiện đúng định vị thương hiệu, khác biệt với đối thủ, và đặc biệt là tồn tại qua thời gian?

Trong khóa huấn luyện Xây dựng thương hiệu bền vững chuẩn Quốc tế, huấn luyện viên Nguyễn Đức Sơn đưa ra quy trình xây dựng tên thương hiệu như sau:

  • Nghiên cứu, thấu hiểu insight khách hàng, đối thủ cạnh tranh
  • Xây dựng chiến lược thương hiệu (định vị, điểm khác biệt, tuyên ngôn, hình mẫu và tính cách thương hiệu…)
  • Brainstorm ý tưởng đặt tên thương hiệu
  • Tinh chỉnh, chắt lọc và đưa ra những cái tên cuối cùng
  • Kiểm tra sở hữu trí tuệ
  • Chọn tên phù hợp nhất và đăng ký bảo hộ tên thương hiệu

Một tên thương hiệu hay là một tên thương hiệu phải phù hợp với chiến lược thương hiệu và còn có khả năng đăng ký quyền sở hữu trí tuệ cho nhãn hiệu.

Xem xét khả năng một tên thương hiệu có thể được bảo hộ nhãn hiệu hay không, phải đánh giá khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu và tra cứu, đánh giá mức độ trùng hay tương tự đến mức gây nhầm lẫn với đối tượng có trước. 

Bài viết dưới đây của Luật sư Tám Trần (IPcom) chỉ đề cập đến việc đánh giá về khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu. Theo quan điểm về mặt pháp lý, có năm cấp độ để đánh giá khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu như sau:

1. Tên sản phẩm (Generic marks) với khả năng bảo hộ tên thương hiệu thấp nhất

Khi lựa chọn một Generic marks làm tên thương hiệu, chủ sở hữu phải đối diện với rủi ro rất cao. Bởi đây là cấp độ mà tên thương hiệu có khả năng đăng ký nhãn hiệu kém nhất.

Ví dụ về các generic marks: 

Paracetamol, Aspirin cho sản phẩm thuốc, Fruit cho dịch vụ phân phối trái cây, Bia hay Café hay Restaurant đăng ký cho nhà hàng ăn uống, quán bar hoặc quán café…

Bảo hộ tên thương hiệu 2

 

– Ai cũng có quyền sử dụng tên sản phẩm để giới thiệu tới công chúng về sản phẩm, dịch vụ của mình. Nếu độc quyền cho người nào đó tên một sản phẩm, dịch vụ đăng ký cho chính sản phẩm dịch vụ đó thì sẽ ngăn chặn những người khác sử dụng trong kinh doanh, tạo ra sự bất bình đẳng.

– Việc được cấp bằng độc quyền bảo hộ nhãn hiệu cho một Generic marks kèm theo các họa tiết, không có nghĩa là các chủ sở hữu được sử dụng độc quyền cho từ này. Họ chỉ được độc quyền sử dụng cách thiết kế của tổng thể nhãn hiệu đã nộp đơn mà thôi.

2. Tên mô tả sản phẩm (Descriptive marks)

Descriptive marks là từ mô tả một sản phẩm dịch vụ, chỉ nơi sản xuất, thành phần, công dụng của sản phẩm… 

Việc sử dụng một từ mô tả sản phẩm dịch vụ để giới thiệu sản phẩm dịch vụ tới công chúng là quyền của các nhà kinh doanh. Do vậy, về nguyên tắc pháp luật cũng sẽ từ chối bảo hộ cho những cái tên mang tính mô tả. Ví dụ như Fresh cho dịch vụ cung cấp thực phẩm, Sạch cho sản phẩm xà phòng, chất tẩy rửa, Cool hay Chill cho dịch vụ vui chơi giải trí.

Giống như Generic marks, việc được cấp văn bằng độc quyền cho một Descriptive marks cùng với các biểu trưng đi kèm không phải là giới hạn sử dụng chính các từ này trong hoạt động quảng bá. 

Bởi việc bảo hộ ở đây là bảo hộ cho tổng thể các họa tiết theo mẫu đăng ký, không bảo hộ riêng biệt cho từ mang tính mô tả sản phẩm, dịch vụ.

Tuy nhiên, trên thực tế có những Descriptive marks vẫn được cấp bằng độc quyền dù không đi kèm với bất kỳ một biểu tượng nào cả. Bởi những nhãn hiệu có tính mô tả đó đã được chủ sở hữu sử dụng quá rộng rãi, phổ biến đến mức nó đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng. 

Ví dụ dầu gội đầu Clear, xe gắn máy Best, pháp luật gọi những trường hợp này là những trường hợp đạt được “ý nghĩa thứ cấp” (secondary meaning) – khả năng phân biệt thứ cấp thông qua quá trình sử dụng lâu dài và phổ biến.

Một số ví dụ về Descriptive marks rất nổi tiếng khác tại Việt Nam như Bia Hà Nội, Bia Sài Gòn,…

Bài Bảo hộ tên thương hiệu

3. Tên gợi ý (Suggestive marks)

Đây là cách đặt tên được sử dụng tương đối phổ biến của các công ty bởi từ gợi ý sẽ gợi lên sự liên tưởng về sản phẩm dịch vụ nhanh nhất. Ví dụ như xe ô tô Jaguar, siêu thị 7-Eleven, máy tính Surface, General Motor,…

Phần lớn các Tên gợi ý (Suggestive marks) sẽ có khả năng đăng ký, tuy nhiên khả năng phân biệt không được đánh giá cao và cũng rủi ro lớn khi đăng ký. Bởi những trường hợp này sẽ bị phụ thuộc vào quan điểm của cơ quan nhà nước. Và trong nhiều trường hợp để giành được quyền đối với nhãn hiệu này cũng tương đối vất vả.

Bảo hộ tên thương hiệu 3

4. Tên tùy ý (Arbitrary marks)

Với Arbitrary marks (từ tùy ý), khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu cũng ở cấp độ cao. Đây là trường hợp mà sử dụng một từ đã có nghĩa sẵn trong từ điển để đặt tên cho thương hiệu mà nghĩa đó không có bất kỳ một sự liên quan hay liên tưởng nào đến hàng hóa dịch vụ đăng ký.

Ví dụ: máy tính Apple, nước tẩy rửa Duck, xà phòng Tide, Harlequin cho dịch vụ xuất bản sách, Cối Xay Gió cho dịch vụ quán café,…

Bảo hộ tên thương hiệu 5

5. Từ tự tạo (Fanciful marks)

Fanciful mark là từ không có nghĩa trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, do chủ sở hữu sáng tạo ra. Fanciful marks – không có ý nghĩa trong từ điển, nên được coi là có khả năng tự phân biệt cao nhất. Bởi bên xâm phạm thật khó lý giải trùng lặp về mặt ý tưởng trong trường hợp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh, sử dụng nhãn hiệu của người khác để trục lợi. Ví dụ như: Xerox, Kodak, Pepsi, Interloka…

Bảo hộ tên thương hiệu 4

Việc lựa chọn Arbitrary marks hoặc Fanciful marks để đặt tên cho sản phẩm, dịch vụ sẽ có một chút khó khăn trong khi thực thi các hoạt động marketing cho các nhãn hàng, bởi khách hàng sẽ khó liên tưởng hơn, doanh nghiệp sẽ tốn nhiều công sức, chi phí hơn.

6. Tổng kết về khả năng đăng ký và bảo hộ tên thương hiệu

Năm cấp độ nêu trên chỉ đánh giá được khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu, tức là chỉ xét trên chính tên nhãn hiệu đó, chưa so sánh với đối tượng khác. 

Và các cấp độ nêu trên chỉ đánh giá nhãn hiệu (theo quan điểm) truyền thống. Là nhãn hiệu mà chỉ bao gồm từ ngữ (có thể thêm biểu tượng 2 chiều). Nhãn hiệu hiện đại – nhãn hiệu phi truyền thống là loại nhãn hiệu được tạo thành dấu hiệu mà có thể được cảm nhận bằng những giác quan khác nhau bao gồm: âm thanh, màu sắc, các trang trí thương mại (trade dress), mùi, vị, hình ảnh động, hình ảnh 3D, touch marks,… Và cho dù là truyền thống hay phi truyền thống thì yếu tố đầu tiên mà nhãn hiệu phải đảm bảo nếu muốn được cấp văn bằng là khả năng tự phân biệt.

Bảo hộ tên thương hiệu - tổng hợp

 


— Tác giả:

Bảo hộ tên thương hiệu - tác giả

Luật sư Tám Trần (IP Attorney)

Giám đốc công ty tư vấn luật IP COM

Cựu học viên khóa Brand 23 và từng tư vấn sở hữu trí tuệ cho các cựu học viên của Plato.

Một số khách hàng tiêu biểu, trong lĩnh vực đầu tư, bất động sản, tài chính (TNG Holdings, Nam Cường, Tasco, An Lạc, Dragon Group, Phú Thái, An Phát Holding, ANGIA Group, Senvila Hội An,…) trong lĩnh vực F&B (KAFA Cafe, Hanoi Ngon,…) trong lĩnh vực FMCG (Ô Mai Hồng Lam, Thạch rau câu Long Hải, gia vị thực phẩm Trung Thành…) trong lĩnh vực y tế (Dược phẩm Fobic, Dược phẩm Thái Minh, Dược phẩm Bảo Minh, Dược phẩm Á Âu,…) lĩnh vực truyền thông, giải trí (BeatVN, Gapo, LeBros,…)

5/5 (2 Reviews)

Bình luận

0935.200.333
0935.200.333
Chat Facebook
Chat Facebook
Chat Zalo
Chat Zalo
Liên hệ
Liên hệ